Chuyên đề Tiếng Việt lớp 3_NNB

CHUYÊN ĐỀ:

 MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 3 TÍCH CỰC, TỰ HỌC CÁC BÀI A TRONG MÔN TIẾNG VIÊT3

  1. Đặt vấn đề:

  Dạy học theo mô hình trường học kiểu mới tại Việt Nam nhằm đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng giáo dục và năng lực sáng tạo của HS

Dạy học theo mô hình trường học mới nhằm lấy quá trình học của HS làm trung tâm, rèn luyện cách tự học, cách tư duy cho HS.

Vì thế chúng ta phải tiếp cận ngay với phương pháp dạy học theo mô hình trường học kiểu mới tại VN để đáp ứng cho hế hệ trẻ trong giai đoạn hiện nay.

     Như chúng ta đã biết, Tiếng Việt là môn học tiếng mẹ đẻ nó là công cụ giúp học sinh giao tiếp và tiếp thu các môn học khác tốt hơn. Ở lớp ba nói riêng, cấp tiểu học nói chung, do khả năng nhận thức của các em còn hạn chế nên việc dạy học sinh đọc – hiểu văn bản chỉ đạt đến cấp độ 3, việc hướng dẫn HS đọc hiểu văn bản nghệ thuật cũng chỉ dừng lại ở một số gợi mở ban đầu, giúp các em tích lũy vốn từ và yêu thích những từ ngữ hay, hình ảnh đẹp, từ đó có ý thức sử dụng những từ ngữ hay, hình ảnh đẹp trong kể chuyện, viết văn, trong giao tiếp trên lớp học và sử dụng chúng để có những lời hay, ý đẹp trong giao tiếp ngoài phạm vi nhà trường.

Thực tế trong khi dạy Tiếng Việt, GV gặp rất nhiều khó khăn trong việc dạy cũng như việc học của HS. Bản thân tôi luôn trăn trở, suy nghĩ làm thế nào để  khơi dậy được sự ham thích, tính tích cực tự học cho HS trong các tiết học Tiếng Việt bài A.

  1. Mục tiêu của môn Tiếng Việt ở Tiểu học.

– Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt

(đọc, viết, nghe, nói) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi.

– Thông qua việc dạy học tiếng Việt góp phần rèn luyện các thao tác tư duy.

– Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt; Về tự nhiên, xã hội và con người; Về văn hoá, văn học của Việt Nam và nước ngoài.

– Bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

III. Chuẩn kiến thức, kĩ năng về dạy học đọc lớp 3:

Trong chương trình môn TV3 kĩ năng đọc bao gồm các nội dung chính là: đọc thông, đọc hiểu, ứng dụng đọc:

– Đọc thông gồm: đọc một số văn bản nghệ thuật, hành chính, báo chí, khoa học thường thức (chú trọng đọc tên riêng nước ngoài, từ dễ đọc sai do ảnh hưởng của cách phát âm địa phương)

– Đọc hiểu bao gồm: hiểu ý chính của đoạn, nội dung của bài; nhận xét về nhân vật, hình ảnh, chi tiết; đặt đầu đề cho đoạn văn.

– Ứng dụng đọc bao gồm: đọc thuộc một số bài thơ, đoạn văn ngắn, ghi chép một vài thông tin đã học.

* Chuẩn đọc thông:

+ Đọc đúng, rõ ràng, rành mạch các văn bản nghệ thuật, hành chính, báo chí… có độ dài khoảng 200 chữ, tốc độ đọc 70-80 chữ/ phút.

+ Đọc thầm nhanh hơn lớp 2 (khoảng 90-100 chữ/ phút). Đọc thầm các bài học để trả lời câu hỏi về nội dung bài.

+ Biết đọc phân biệt lời nhân vật trong các đoạn đối thoại và lời người dẫn chuyện.

* Chuẩn đọc hiểu:

+ Hiểu ý chính của đoạn văn. Biết nhận xét một số hình ảnh, nhân vật hoặc chi tiết trong bài đọc.

* Chuẩn ứng dụng đọc:

Thuộc một số bài thơ, đoạn văn dễ nhớ, có độ dài khoảng 80 chữ. Biết sử dụng mục lục sách, thời khóa bỉểu, đọc thông báo, nội quy… để phục vụ sinh hoạt và học tập của bản thân.

  1. Nội dung và thời lượng ở Bài A bao gồm:

– Đọc và hiểu một văn bản (văn bản đọc dạy trong 1,5 tiết của SGK TV3 hiện hành).

– Luyện tập kĩ năng nói về chủ điểm mới.

– Thời lượng dành cho bài A là 2 tiết và được chia thành 3 HĐ chính: HĐ cơ bản, HĐ thực hành và HĐ ứng dụng.

  1. Thực trạng về dạy đọc- hiểu ở lớp Ba:

1.Thuận lợi:

* Giáo viên:

– Được tập huấn chương trình VNEN.

– Được sự quan tâm sâu sát của PGD và nhà trường.

– Được giao lưu học hỏi với các trường bạn, đồng nghiệp.

– Có kinh nghiệm dạy học lớp Ba nhiều năm.

– Được cấp tài liệu HD dạy học để dạy.

* Học sinh:

-Được học theo mô hình trường tiểu học mới nhiều năm, tiếp cận được cách học nhóm, học cá nhân, học với cộng đồng.

– Được cấp sách để học.

– Được cha mẹ quan tâm vamam hiểu về mô hình trường tiểu học mới Vnen.

– Lượng kiến thức được giảm tải nhiều so với chương trình hiện hành.

2/ Khó khăn:

* Giáo viên:

– Do trong một lớp có nhiều đối tượng HS nên GV phải mất thời gian rất nhiều khi đến hướng dẫn, kiểm tra các em đọc còn chậm.

* Học sinh:

– Trong mỗi lớp học có nhiều đối tượng HS: Giỏi, khá, trung bình, chậm.

– Kĩ năng đọc  trơn và đọc hiểu của một số HS còn nhiều hạn chế.

– Việc tổ chức học nhóm lớn có lợi cùng một lúc nhiều em được rèn đọc, nhưng đồng thời cũng rất khó khăn cho việc GV giám sát và hướng dẫn những HS đọc yếu cùng một lúc ở cả 5 nhóm.

– Các em thường ít thích đọc truyện, đọc báo, chỉ thích đọc truyện có tranh ảnh. Đa số các em chưa có ý thức tự học ở nhà. Đây là khó khăn lớn nhất trong suốt quá trình dạy học của người GV.

  1. Các giải pháp thực hiện:
  2. Đối với GV

+ Thường xuyên theo dõi các em đọc bài trong các tiết học để nắm được danh sách HS đọc trơn còn chậm, đọc hiểu còn yếu.

+ Khi soạn bài, xem bài, chuẩn bị cho tiết dạy có những vấn đề gì cần lưu ý về đọc trơn.

* Từ khó đọc, từ các em hay đọc theo quán tính…

Ví dụ bài Giọng quê hương:

– Từ khó đọc: lạc mất đường về, chuyện trò, rớm lệ.., cụm từ nào cần đọc liền mạch. Từ đọc theo quán tính: thành thực đọc là thành thật, yên lặng đọc là im lặng.

*Câu nào dài, cần cho HS ngắt nghỉ ở đâu cho phù hợp.

Ví dụ bài Cậu bé thông minh:

-Vua hạ lệnh cho mỗi làng trong vùng nọ/ nộp một con gà trống biết đẻ trứng,/ nếu không có thì cả làng phải chịu tội./

-Vua biết là đã tìm được người giỏi,/ bèn trọng thưởng cho cậu bé/ và gửi cậu vào trường học/ để luyện thành tài./

*Câu nào, cụm từ nào cần nhấn giọng, lên giọng..vv.. chú ý ngữ điệu thể hiện cảm xúc của câu văn, đoạn văn.

Ví dụ dạy bài Giọng quê hương

– Xin lỗi. Tôi quả thật chưa nhớ ra anh là…

– Mẹ tôi là người miền Trung…Bà qua đời đã hơn tám năm rồi.

Khi đọc các câu này cần kéo dài giọng thể hiện tình cảm của người đang nói.

Dạy bài Trận bóng dưới lòng đường

– Chỗ này là chỗ chơi bóng à? (giọng hỏi)

– Thật là quá quắt!(giọng tức giận)…

+ Khi soạn bài, xem bài chuẩn bị cho tiết dạy bài A đầu tuần có những vấn đề gì cần lưu ý về đọc- hiểu:

– Từ nào trong bài cần phải giải thích thêm cho HS; Từ nào là từ cần phải hỏi ngược lại HS.

– Từ nào là từ ngữ mang ý nghĩa bản địa, từ nào là từ phổ thông, từ nào là từ đặc biệt của vùng miền….

– Chọn ra những câu văn có hàm ý chỉ nội dung một ý chính; hoặc có hàm ý chính của chủ đề bài đọc để HD để giải thích cho HS hiểu ý nghĩa của câu, ý nghĩa của từ ngữ. Từ đó giúp các em cảm nhận và nâng cao dần kĩ năng đọc hiểu.

+ Khi dạy :

– GV cần chú tâm đến số HS đọc trơn yếu; đọc hiểu yếu. GV quan sát chung cả 5 nhóm. Khi nhóm nào đó có em đọc yếu, GV lắng nghe để kịp thời giúp đỡ ngay. Có thể nhóm trưởng cho bạn đó đọc nhiều hơn trong nhóm.

– GV tạo điều kiện cho những em đọc trơn yếu được luyện đọc nhiều lần như nhờ bạn học giỏi kèm đọc trong những lúc giải lao ở các tiết học TD, hát nhạc, thủ công …vv…

-Tạo điều kiện cho số em đọc hiểu yếu có cơ hội trả lời câu hỏi mà GV nêu ra nhiều hơn.

-Tăng cường việc tuyên dương, khen ngợi sự tiến bộ của các em.

– Sau phần luyện đọc nối tiếp đoạn trong nhóm, đưa thêm một HĐTT vào để gọi những HS đọc yếu cho các em đọc để nhận xét ghi vào vở Học sự tiến bộ của các em. Nhằm mục đích cho các em yếu được nhiều cơ hội đọc, một phần giúp các em nâng dần ý thức tự học, tích cực học hơn.

-Sau mỗi câu hỏi hoặc câu đọc từ, nghĩa của từ trong nhóm đôi, đưa thêm một HĐTT vào để gọi những HS đọc yếu cho các em trả lời câu hỏi hoặc trả lời nghĩa của các từ vừa tìm hiểu. Sau đó các bạn và cô nhận xét ghi vào vở Học sự tiến bộ của các em. Nhằm mục đích cho các em yếu được nhiều cơ hội hiểu biết từ ngữ và hiểu biết nội dung bài đọc, một phần giúp các em nâng dần ý thức tự học, tích cực học hơn. Vì mỗi lần các em trả lời đúng, to, rõ ràng GV ghi một nhận xét tốt vào vở cho các em. Nên các em yếu cũng không còn rụt rè nữa mà xung phong phát biểu rất sôi nổi.

– Giao việc luyện đọc về nhà cho các em trước khi học bài đó.

-Tăng cường kiểm tra đầu giờ của HĐTQ

-Tăng cường liên hệ trực tiếp với phụ huynh để phụ huynh hỗ trợ.

VD: Chủ nhật các em ở nhà, GV giao bài về nhà cho các em đọc trước, nhiều lần bài Giọng quê hương, các em sẽ quen mặt chữ, quen cách đọc để đọc tốt hơn và đọc cho bố mẹ nghe…

– Cho HS về nhà tìm hiểu trước các câu hỏi hoặc trước giờ học, nhóm trưởng đến hỏi bạn, cùng trao đổi với bạn.

VD: Ngày chủ nhật ở nhà các em luyện đọc bài nhiều lần, để đầu giờ sáng thứ hai nhóm trưởng đến kiểm tra.

– GV luôn nghiên cứu, học hỏi, thống nhất ở tổ để điều chỉnh nội dung, hình thức dạy học cho phù hợp.

VD: Bài 10A (Tiết 1)

– Câu 1: HĐ cả lớp

– Câu 2: Nghe thầy cô đọc câu chuyện sau: Giọng quê hương

– Câu 3: HĐ nhóm đôi

– Câu 4: HĐ cả lớp

– Câu 5: HĐ nhóm

– Câu 6: HĐ nhóm

Điều chỉnh:

Câu 2: +HS lắng nghe cô đọc

+HS đọc thầm cá nhân

Câu 3: Khi HS HĐ nhóm đôi

– GV hỏi lại các từ đó để HS trả lời nhằm khắc sâu từ mới.

Câu 4: GV đọc mẫu- HS đọc cá nhân, đồng thanh.

Câu 5: + Cho HS đọc trong nhóm.

+ Đại diện 1 nhóm đọc trước lớp

  1. Đối với HS

– Hằng ngày phải ghi vở những điều cô dặn dò đầy đủ trong vở học.

– Về nhà mở vở học ra xem cần học, cần đọc và cần làm những việc gì.

– Học bài và làm bài GV yêu cầu, có gì không hiểu nhờ người nhà giúp đỡ.

– Đầu giờ học tại lớp HĐTQ các nhóm trường tiến hành kiểm tra bài từng bạn.

– Đầu tiết dạy các nhóm trưởng báo cáo kết quả việc học ở nhà của từng nhóm cho GV theo dõi thi đua.

– Cuối buổi học HS phải ghi chép đầy đủ phần chuẩn bị bài cho ngày hôm sau, nhóm trưởng kiểm tra vở các bạn trong nhóm.

– Cuối tuần HS được GV nhận xét qua theo dõi 1 tuần để rút kinh nghiệm cho tuần sau.

– Trong giờ chơi cho các em lên thư viện lớp hoặc thư viện trường đọc sách. Lâu lâu GV có thể ra một số câu hỏi cho HS nêu cảm nghĩ hoặc tóm tắt nội dung câu chuyện mà các em đã đọc, để nâng cao KN đọc hiểu ở các em HS lớp 3 và cũng từ đó khuyến khích các em đọc sách báo.

VII. Kết luận:

Sau một thời gian áp dụng các giải pháp trên, bản thân thấy rất khả quan trong việc dạy tốt bài A trong TLHD học Tiếng Việt 3 theo mô hình trường tiểu học mới.

+ HS đọc bài trôi chảy, lưu loát hơn. Đặc biệt học sinh đọc chậm tiến bộ rõ rệt: đọc thông hơn không còn đọc ấp úng nhiều.

+ Các em hiểu bài sâu hơn vì có sự phối hợp giữa GV-HS-PH.

+ Các em đọc chậm tự tin hơn, thích đọc hơn.

+ Bài dạy đạt hiệu quả cao.

Trên đây là một số giải pháp mà tôi đã thực hiên và đạt kết quả trong việc dạy các tiết TV bài A của chương trình đối với lớp 3D từ đầu năm học đến nay. Tuy nhiên đây mới chỉ là những việc làm của bản thân còn hạn hẹp nên rất mong đồng nghiệp góp ý để bản thân học hỏi và rút kinh nghiệm trọng chuyên môn của mình.

 

Đại Hiệp, ngày 5 tháng 11 năm 2018

 

 

 

Nguyễn Thị Thanh Liễu