Chuyên đề Tiếng Việt lớp 1_CGD

Chuyên đề:   MỘT VÀI BIỆN PHÁP RÈN KỸ NĂNG ĐỌC CHO HỌC SINH LỚP 1 TV- CGD:

       1.ĐẶT VẤN ĐỀ

Như chúng ta đã biết “Ngôn ngữ là phương tiện quan trọng nhất của loài người”(Lê Nin) . “Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư tưởng” (Mác).

Ngôn ngữ là  phương tiện biểu hiện tâm trạng, tình cảm. Chức năng quan trọng của ngôn ngữ đã quy định sự cần thiết nghiên cứu sâu sắc kỹ năng đọc trong phân môn Tiếng Việt và trong hệ thống giáo dục nhà trường .

Có đọc thông thì mới viết thạo. Học sinh lớp Một chỉ được công nhận khi các em biết đọc chữ .

Chúng ta đều nhận thức sâu sắc rằng, môn Tiếng Việt ở tiểu học rèn luyện cho học sinh bốn kỹ năng : nghe, nói, đọc, viết song mục tiêu của việc dạy và học Tiếng Việt ở lớp Một là đem lại cho các em kỹ năng đọc đúng, viết đúng. Ngoài ra còn làm giàu vốn từ, biết nói đúng các mẫu câu ngắn và tạo cho các em sự ham thích thơ văn. Đây là điều kiện chuẩn bị để các em học tốt hơn môn Tiếng Việt ở các lớp trên .

2.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI :

Kỹ năng đọc là sự khởi đầu giúp cho học sinh chiếm lĩnh một công cụ mới để sử dụng trong học tập và trong giao tiếp. Nếu kỹ năng viết được coi là phương tiện ưu thế nhất trong hệ thống ngôn ngữ thì kỹ năng đọc có một vị trí quan trọng không thiếu được trong chương trình môn Tiếng Việt ở bậc tiểu học.

Cùng với kỹ năng viết, kỹ năng đọc có nhiệm vụ lớn lao là trao cho các em cái chìa khóa để vận dụng chữ viết trong học tập. Khi biết đọc, biết viết các em có điều kiện nghe lời thầy giảng trên lớp, sử dung sách giáo khoa, sách tham khảo…Từ đó có điều kiện học tốt các môn học học khác có trong chương trình.

Ở lớp Một các em học sinh bắt đầu làm quen với: Nghe, nói, đọc, viết. Và kỹ năng đọc rất quan trọng, nếu kỹ năng đọc được rèn luyện tốt, hình thành tốt ở các em nó sẽ giúp các em đọc tốt suốt cả cuộc đời, giúp các em phát triển tư duy, cảm

nhận cái hay, cái đẹp trong mỗi bài học, hiểu được nghĩa của tiếng, từ, câu , đoạn văn , bài văn mình vừa đọc, hiểu được các lệnh các yêu cầu trong các môn học khác. Mặt khác, ở lớp Một các em được tập đọc thành thạo, đọc đúng, đọc trôi chảy thì khi lên các lớp trên các em sẽ học vững vàng, học tốt hơn. Và các em sẽ ham học, tích cực trong học tập hơn nếu kết quả học tập của các em đạt khá – giỏi. Chính vì những lý do trên mà tôi chọn đề tài “Rèn kỹ năng đọc cho học sinh lớp Một

  1. 3. THỰC TRẠNG CỦA LỚP :

a.Thuận lợi:

+ Giáo viên:

– Được sự quan tâm và chỉ đạo tốt của các cấp lãnh đạo về chuyên môn. Tổ

chức bồi dưỡng giáo viên, tổ chức những buổi học chuẩn kiến thức kỹ năng cho học sinh tiểu học,v v… cung cấp đủ tài liệu, phương tiện để nghiên cứu, học hỏi, giảng dạy.

– Được sự giúp đõ của Ban Giám Hiệu trường: tổ chức thao giảng, dự giờ hàng tháng, tổ chức những buổi học chuyên đề thảo luận về chuyên môn để rút ra những ý kiến hay, những đề xuất kinh nghiệm tốt áp dụng trong việc giảng dạy.

  • Đội ngũ giáo viên trường có tay nghề vững lâu năm trong công tác, có nhiều

kinh nghiệm, có ý thức tốt về trách nhiệm người giáo viên và sẵn sàng giúp đỡ đồng nghiệp về chuyên môn cũng như giúp nhau tháo gỡ những khó khăn hay xử lý các trường hợp học sinh cá biệt về học tập cũng như hạnh kiểm.

+ Học sinh:

  • Ở độ 6 – 7 tuổi của học sinh lớp 1. Các em đa số còn rất ngoan, dễ vâng lời,

nghe lời cô giáo, thích học tập và thi đua với các bạn, dễ khích lệ động viên khen thưởng, vv….

  • Có được sự quan tâm về việc học tập của con em mình của một số phụ huynh

có ý thức trách nhiệm không khoán trắng cho nhà trường cho giáo viên, và cùng với giáo viên trong việc học tập của con em mình như: Chuẩn bị đầy đủ sách vở, đồ dùng học tập,thường xuyên nhắc nhở và tạo điều kiện tốt cho con em mình đến lớp cũng như học tập ở nhà.

  1. Khó khăn:

Tuy nhiên, cùng với những thuận lợi trên, bản thân tôi vẫn còn gặp một số khó khăn sau:

+ Giáo viên:

-Tranh ảnh minh họa có sẵn cho môn Tiếng Việt còn hạn chế. Giáo viên còn tự

làm thêm đồ dùng dạy học để tạo sinh động cho tiết dạy, nên còn mất thời gian đầu tư.

+ Học sinh:

-Trình độ học sinh trong lớp không đồng đều. Bên cạnh những em tiếp thu bài tốt vẫn còn một số em yếu về thể chất, bé nhỏ hơn so với các bạn bình thường kèm theo phát triển chậm về trí nhớ, học trước quên sau, chậm tiến.

– Do đặc trưng vùng miền nên các em chủ yếu  phát âm sai  l / n ; gi/d ; ch/tr ; c / k

–  Đa số phụ huynh trong lớp là buôn bán , chưa quan tâm đúng mức đến việc học tập của con em mình, chưa tạo điều kiện tốt để  kèm cặp con em mình học bài, đọc bài ở nhà.

– Một số trường hợp học sinh bố mẹ di làm ăn xa , cha mẹ các em khoán trắng việc học hành cho ông, bà  và nhà trường  nên phần nào cũng ảnh hưởng đến việc  học tập của các em .

  1. CƠ SỞ LÝ LUẬN :
  2. Cơ sở tâm lí học :

   – Đi học lớp 1 là một bước ngoặt quan trọng trong đời sống của trẻ .Từ đây hoạt động chủ đạo của trẻ, hoạt động vui chơi, ở giai đoạn mẫu giáo chuyển sang một loại hoạt động mới, hoạt động học tập với đầy đủ ý nghĩa của từ này. Các em trở thành những “cậu học sinh”, những “cô học sinh”, có một “địa vị” mới trong gia đình và ngoài xã hội. Sự chuyển đổi hoạt động chủ đạo này có tác động lớn đến tâm lý của trẻ. Những hiểu biết về về tâm sinh lý của trẻ lớp 1 đã hình thành khả năng tư duy bằng tín hiệu, là những tín hiệu thay thế ngữ âm. Ở độ 6 -7 tuổi khả năng phân tích, tổng hợp ở trẻ khá hoàn chỉnh, từ đây các em có khả năng tập tách từ thành tiếng, thành âm và chữ .

  b.Cơ sở ngôn ngữ học của việc rèn kỹ năng đọc:

       Kỹ năng đọc cho học sinh lớp Một rất quan trọng, đó cũng là sự phản hồi của

kết quả tiếp thu sau một quá trình học tập của các em. Nó thể hiện kết quả nhận biết các con chữ, các vần, và khả năng ghép chữ cái với nhau thành vần, ghép chữ cái với vần thành tiếng, và khả năng đọc từ, đọc câu sau cùng là đọc được một bài văn ngắn, một bài thơ ngắn vv…

  • Học sinh đã nhận được mặt chữ, biết ghép vần, ghép tiếng, ghép từ, đọc câu

còn yêu cầu các em phải đọc đúng, đọc chuẩn, đọc chính xác. Vì nếu các em phát âm chuẩn đọc đúng các em sẽ viết đúng, bài chính tả sai ít lỗi, và các em sẽ hiểu được ý của tiếng, từ, câu , bài  mà các em viết.

  1. Cơ sở nghiên cứu

Tôi nghiên cứu sách thiết kế Tiếng Việt 1 công nghệ giáo dục. Các tài liệu liên quan: Sách giáo viên, Sách giáo khoa lớp 1, các tham luận dạy Tiếng Việt cho học sinh lớp Một . Phương pháp dạy học Tiếng Việt 1 . Các ấn phẩm:  để học tốt, dạy tốt môn tiếng việt lớp Một,phần mềm dạy học Tiếng Việt 1, sách báo , sách tham khảo, hỗ trợ Tiếng Việt lớp 1 . . .

  1. CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN :

Để giúp học sinh rèn luyện và phát triển kỹ năng đọc tôi đã áp dụng những biện pháp sau:

a.Nắm bắt thực trạng, tình hình học sinh qua khảo sát điều tra kiến thức đầu năm.

– Tìm hiểu để biết rõ số học sinh trong lớp đi học Mẫu Giáo và số học sinh

không đi học Mẫu Giáo, hoặc đi học không đều. Tìm hiểu nguyên nhân, lý do vì sao học sinh đó không đi học Mẫu Giáo.

-Kiểm tra sự nắm bắt, nhận diện chữ cái các em đã học ở Mẫu Giáo và kết quả

điều tra năm thu được như sau:

+Tình hình học sinh:

Lớp 1B  sĩ số : 32 học sinh

+ Kết  quả khảo sát nhận diện chữ cái:

+ Học sinh không biết chữ cái nào       :  4 em

+  Biết  6 – 10 chữ cái                          :   10em

+  Nhận biết hết bảng chữ cái               :   8 em

+  Nhận biết âm hai chữ cái                  :  10em

Như vậy tỉ lệ học sinh nhận diện một cách chắc chắn chính xác bảng chữ cái còn thấp dẫn đến kết quả học tập còn chưa cao.

Một trong những lý do dễ thấy là vì các em còn quá nhỏ, chưa ý thức tự giác, cố gắng trong học tập. Vì vậy giáo viên chúng ta phải biết được đặc điểm tình hình của từng đối tượng, khả năng tiếp thu của từng em để phát huy tính tích cực ham học cho học sinh. Tổ chức tiết dạy sao cho các em luôn cảm thấy nhẹ nhàng, vui tươi và các em sẽ thích học. Nhận thức rõ được các khó khăn cơ bản về học sinh tôi đã có những biện pháp cụ thể sau :

  1. b. Biện pháp:

    * Biện pháp tác động giáo dục:

– Từ thực trạng trên tôi đã tiến hành họp phụ huynh học sinh đầu năm học: Đề

nghị  và yêu cầu thống nhất trang bị đầy đủ sách vở, đồ dùng cần thiết phục vụ cho môn học.

  • Yêu cầu phụ huynh thường xuyên nhắc nhở việc học bài, đọc bài ở nhà của

con em mình, đồng thời hướng dẫn phụ huynh cơ bản về cách đọc, các phát âm chữ cái, cách đánh vần, …để phụ huynh nắm rõ cách dạy học hỗ trợ giáo viên kèm cặp con em mình ở nhà.

  • Tham mưu với nhà trường để giáo viên có đủ tài liệu tham khảo, đồ dùng dạy

học, tự làm thêm tranh ảnh mô hình, sưu tầm thêm những mô hình vật thật để tiết dạy vui, sinh động. Đồng thời tăng cường vận dụng Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học, qua những hình ảnh động cũng góp phần gây hứng thú giúp các em hưng phấn trong luyện đọc .

  • Xây dựng đôi bạn học giỏi – yếu kèm cặp nhau.
  • Giáo viên có thể cho học sinh học tiếp thu chậm , đọc chậm để ngồi gần với

một học sinh đọc tốt. Bạn đọc tốt sẽ giúp bạn đọc chậm khi đọc bài, giúp bạn đánh vần, đọc tiếng và giúp bạn trong thao tác cài chữ để ghép vần, ghép tiếng.

  • Bồi dưỡng, luyện tập cho học sinh sau khi phân loại học sinh ngay từ đầu năm

giáo viên nên nắm vững trình độ học sinh trong lớp mình theo các mức giỏi, khá, trung bình, yếu.Đối với các học sinh trung bình yếu. Các em chưa nhìn được mặt chữ cái hoặc chưa biết đủ 24 chữ cái đơn giản, giáo viên nên dành nhiều thời gian để bồi dưỡng cho đối tượng này, ôn và dạy lại 24 chữ cái cơ bản cho các em.

* Phần học âm:

Sau khi cho học sinh học thuộc tên gọi và cấu tạo các nét chữ cơ bản một cách vững vàng thì tiếp theo là phần học chữ cái.

Giai đoạn này vô cùng quan trọng. Trẻ có nắm chắc từng chữ cái thì mới có thể ghép các được các chữ cái với nhau để tạo thành vần, thành tiếng, ghép các tiếng đơn lại với nhau tạo thành từ, thành câu.

Lúc này tôi dạy cho các em nhận diện, phân tích từng nét trong từng con chữ cái và nếu chữ cái đó có cùng tên mà lại có nhiều kiểu viết – kiểu in khác nhau hay gặp trong sách báo như chữ “a”, chữ “g” thì tôi phân tích cho học sinh hiểu và nhận biết đó cũng là chữ “a”, chữ “g”  để khi gặp kiểu chữ đó được in trong sách báo trẻ dễ hiểu, dễ đọc không bị lúng túng.

VD:  Từ việc học kỹ cấu tạo âm bởi những nét chữ cơ bản thật kỹ và tỉ mỉ như trên sẽ giúp trẻ phân biệt được sự khác nhau cả về cấu tạo và tên gọi của các âm.

 

+ Âm c/ k

Âm /cờ/ đứng trước âm /e/ /ê/ và /i/ phải ghi bằng con chữ k.

+ Âm d /gi

Phân biệt trong các trường hợp

gia (đình )                   da ( thịt )

già (cụ già)                    (cây dà )

giá  (giá trị)                 dá

 giả  (dối  )                    dả

giã (gạo  )                     (man)

 giạ( lúa )                       dạ ( vâng)

giẻ (lau  )                       dẻ (hạt dẻ)

VD:

+ Các âm ghép:  ch   –   c

nh  –   n

th   –   t

kh  –   k

gh   –   g

ph  –   p

ngh –  ng

+ Còn lại các âm :

gi, tr ,  qu ,ng  tôi cho học kỹ về cấu tạo

+ Phân từng cặp :

ch  –   tr ,      ng  –  ngh,     c – k,       g – gh  để học sinh phát âm chính xác và viết chính tả ( âm /gờ/ đứng trước âm /e/ /ê/ và /i/ phải ghi bằng con chữ gh ).

– Sang phần âm ghép ( chữ có hai âm ghép lại với nhau) đa số học sinh chậm trong lớp rất nhanh quên cách đọc của những âm này  nên trong các bài ôn tập tôi luôn cho học sinh đọc, ghép, viết, nhiều  giúp các em ghi nhớ tên âm .

Trong từng tiết học, từng bài ôn tôi luôn tìm đủ cách để kiểm tra phát hiện sự tiến bộ của trẻ thông qua các bài đọc, các giờ chơi, giờ nghỉ….. từ đó củng cố thêm kiến thức cho học sinh khắc sâu vào trí nhớ học sinh.

*Phần học vần

Giai đoạn này vô cùng quan trọng. Trẻ có nắm chắc từng vần thì mới có thể ghép các được các tiếng với nhau để tạo thành từ, thành câu.

Lúc này tôi dạy cho các em nhận diện, phân tích cách đọc trong từng vần khác nhau  như oang, oac thì tôi phân tích rõ cho học sinh hiểu và nhận biết hai vần.

Ví dụ : /oang / – /o/- /ang/-/oang /

/oac / – /o/- /ac/-/oac/

Và cho học  sinh phân biệt cách đọc vần trong các trường hợp so với chương trình hiện hành có khác.

Ví dụ: /uôm /phân tích là /ua/ – / mờ/ – /uôm/  âm chính là /ua/ khác với hiện hành /uôm/  đọc là  /u/ – ô/ -/ mờ/ / uôm/

/uôp /phân tích là /ua/ – / pờ/ – /uôp/  âm chính là /ua/ khác với hiện hành /uôp/  đọc là  /u/ – ô/ -/ pờ/ / uôp/

Hay là nguyên âm đôi /ua/  có âm cuối đi kèm viết là /uô/,  không có âm cuối đi kèm viết là / ua/.

/iê /đọc là nguyên âm đôi / ia/.

/uô/ đọc là nguyên âm đôi / ua/.

/ươ/ đọc là nguyên âm đôi / ưa/.

Vì vậy trong từng tiết học, từng bài ôn tôi luôn tìm đủ cách để kiểm tra phát hiện sự tiến bộ của trẻ thông qua các bài đọc, từ đó củng cố thêm kiến thức cho học sinh khắc sâu hơn.

  1. NHỮNG PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC:

Trong từng tiết dạy môn Tiếng Việt, để giúp học sinh tích cực và ham học giáo viên cần sử dụng linh hoạt và phù hợp các phương tiện hỗ trợ tiết dạy như sau:

  • Sử dụng tranh ảnh trong sách giáo khoa là chủ yếu.
  • Tận dụng những vật thật, tranh ảnh có sẵn trong thực tế để các em quan sát

tìm hiểu.

  • Sưu tầm thêm một số tranh ảnh, mẫu vật có liên qua đến bài dạy.
  • Ứng dụng các hình ảnh bài giảng điện tử giảng dạy trong tiết học .
  • Sử dụng thường xuyên bộ đồ dùng học Tiếng Việt của học sinh và giáo viên.
  1. PHƯƠNG PHÁP VÀ HÌNH THỨC TỔ CHỨC DẠY:

Có rất nhiều phương pháp và hình thức để áp dụng cho một tiết dạy nhằm đạt được một kết quả tốt cho giờ học. Tuy nhiên không một phương pháp nào được coi là vạn năng, giáo viên nên sử dụng linh hoạt và đồng loạt nhiều phương pháp để giúp học sinh của mình đọc ngày càng tốt hơn. Sau đây là một số phương pháp thường được áp dụng trong giờ học :

* Phương pháptrực quan

Phương pháp này đòi hỏi học sinh được quan sát vật thật, tranh ảnh tự nhiên , hay việc làm mẫu của giáo viên như cho các em nghe cô phát âm mẫu, đọc mẫu hoặc có thể cho các em nhìn hình ảnh minh họa trong sách các em cũng có thể đọc được những âm tiếng đã có sẵn trong sách rồi đọc.

Ví dụ : Khi dạy học sinh học âm “l”, giáo viên phải phát  âm mẫu và phân tích mẫu  cho học sinh quan sát  để các em “bắt chước” phát âm mới đúng được .

         * Phương pháp đàm thoại, vấn đáp.

Giáo viên phát âm /nga/

Hỏi : Tiếng /nga/ có âm nào đã học, âm nào chưa học ?

Trả lời : Âm /a / đã học, âm / ng/ chưa học.

Hỏi: Âm /a/ là nguyên âm hay phụ âm ?

Trả lời : Nguyên âm.

Khi sử dụng phương pháp này, giáo viên nên dùng ngôn ngữ dễ nghe, nhẹ nhàng, tránh cáu gắt khi các em chậm nhớ, chậm hiểu. Hãy ôn tồn dẫn dắt học sinh từng bước một để dạy các em đọc từng chữ, từng tiếng, từng câu trong mỗi ngày.

* Phương pháp quan sát, động viên khen thưởng học sinh.

Trong tiết dạy tôi thường chú ý đến học sinh ít nói, thụ động, học sinh đọc chậm, đọc yếu để gọi các em thường xuyên đọc bài . Đối với học sinh giỏi – khá tôi thường khích lệ, khen ngợi để các em phấn khởi hơn.Còn đối với học sinh trung bình – yếu tôi nhẹ nhàng an ủi động viên: “ Cố lên, rồi các em sẽ đọc tốt như các bạn nếu các em cố gắng đọc bài nhều ở lớp cũng như ở nhà.” Trong tiết dạy tập đọc, sau khi cho cả lớp đọc xong, tôi mời các em đọc yếu, trung bình lên bàn giáo viên để cùng đọc bài với cô.Tôi giành nhiều thời gian cho đối tượng này hơn. Cùng đọc bài với các em trong giờ ra chơi ( nhưng vẫn để cho các em có thời gian thư giãn, nghỉ ngơi). Khi các em có biểu hiện tiến bộ tôi thường khen thưởng các em bằng những phần quà nhỏ như cuốn vở, viên phấn màu, cây bút đẹp ,vv… để các em thích thú và cố gắng hơn.

* Phương pháp học nhóm

Ngay từ đầu năm học qua khảo sát, phân loại học sinh trong lớp tôi bố trí cho học sinh giỏi kèm học sinh yếu, em giỏi ngồi gần em yếu để giúp bạn học tập, ưu tiên những học sinh yếu được ngồi ở dãy bàn thứ nhất và thứ hai trong lớp. Trong từng giờ học lúc nào tôi cũng gọi các em đọc bài nhiều hơn những bàn học sinh khác, gọi đọc theo nhóm đôi, nhóm 4 rồi nhóm 6, đọc tiếp nối theo dãy để học sinh  được luyện tập nhiều hơn .

        * Phương pháp tổ chức các trò chơi

Trong giờ học vần, tôi hay lồng ghép các trò chơi nhỏ để cả lớp cùng tham gia.

VD: Trò chơi Bắn tên, bắn tên.

Một HS nói bắn tên bắn tên các bạn dưới lớp đồng thanh tên chi, tên chi bắn trúng tên bạn nào thì bạn đó đứng lên mời các bạn phân tích cho mình tiếng theo yêu cầu .

Ví dụ: Mờì các bạn phân tích cho mình tiếng /nghe/. Cả lớp phân tích /nghe/ -/nghờ/ -/e/ -/ nghe/ cho học sinh đọc.

Hay trò chơi: Chỉ nhanh – Chỉ đúng

Tôi gọi một nhóm 3 học sinh lên bảng 1 em (là học sinh khá, giỏi ) đọc cho hai học sinh yếu chỉ vào âm, tiếng vừa học .Trò chơi này học sinh rất thích và lớp học cũng sôi nổi .

* Phương pháp nhận xét nêu gương.

Để nâng dần chất lượng học sinh trong lớp, muốn cho trình độ học sinh đồng đều vào cuối năm học, tôi thường trò chuyện với học sinh trung bình – yếu để giúp các em cố gắng hơn cho kịp bằng các bạn. Tôi cho các em nhận xét các bạn giỏi trong lớp rồi động viên khen ngợi cho các em thấy và học hỏi theo.

  1. KẾT QUẢ

Trong quá trình áp dụng các biện pháp, phương pháp trên để rèn kỹ năng đọc

cho học sinh lớp 1. Tôi thấy kỹ năng đọc của các em học sinh tiến bộ hẳn lên .

 

 

Lớp

 

Sĩ số

Đọc tốt

 

Đọc tương đôi tốt Đọc chậm
SL % SL % SL %
  1A

 

2016-2017

   29     24   82,7    4   13,7       1    3,6
  1C

2017-2018

   29     26    89,6    3   10,4    

 

Đây là một  kết quả rất đáng mừng, bù đắp cho công sức và sự kiên nhẫn của cả thầy và trò trong quá trình rèn luyện.

Rèn kỹ năng đọc cho học sinh là đọc đúng âm, vần, tiếng, từ, câu, đoạn, bài vv……Đọc còn yêu cầu học sinh biết ngắt nghỉ đúng ở dấu phẩy, dấu chấm, đọc còn yêu cầu các em phát âm chuẩn, chính xác các con chữ… để khi viết các em không nhầm lẫn dẫn đến sai lỗi chính tả

Vì thế môn Tiếng Việt của học sinh lớp 1 có kết quả cao. Giáo viên chủ nhiệm lớp phải nắm vững đặc điểm tâm sinh lý của học sinh, phải yêu học sinh như chính con mình, biết rõ mặt mạnh, mặt yếu của học sinh để bồi dưỡng, luyện tập.

Trong từng tiết dạy giáo viên phải xác định khối lượng kiến thức cần truyền thụ cho học sinh thông qua mục đích, yêu cầu của bài dạy. Khi giảng dạy cần lựa nhiều phương pháp phù hợp, vận dụng việc đổi mới phương pháp trong giảng dạy đó là lấy học sinh làm trung tâm, phải khơi gợi cho học sinh tính chủ động, ham thích học, đọc bài. Việc chuẩn bị đồ dùng dạy học cũng được coi trọng hàng đầu và nên thường xuyên sử dụng thiết bị dạy học. Ứng dụng công nghệ thông tin trong việc giới thiệu tranh ảnh, trò chơi để học sinh hào hứng học tập .

Giáo viên cần dẫn dắt học sinh đọc một cách nhẹ nhàng, dí dỏm, tạo cho các em sự tin cậy, yêu mến cô giáo, tinh thần vui vẻ, hồn nhiên để học tập. Khi đọc mẫu giáo viên nên phát âm chuẩn xác để học sinh bắt chước và vững vàng trong cách đọc tránh đọc sai để ảnh hưởng đến học sinh.

Tuy nhiên đều quan trọng hơn cả vẫn là lòng yêu trẻ, sự kiên trì, nhẫn nại và ý thức trách nhiệm của một người thầy giáo, cô giáo trực tiếp gần gũi các em hàng ngày. Chúng ta luôn ý thức trách nhiệm của mình dạy học sinh phải tiến bộ, sau 1 năm học các em phải đọc được và đạt được mức chuẩn đến trên chuẩn. Muốn đạt được mục đích này người giáo viên lập kế hoạch cho mình ngay từ đấu, quyết tâm giữ vững tinh thần tránh nhiệm  của mình với học sinh. Hãy cùng học, cùng đọc với các bạn nhỏ này ở mọi lúc mọi nơi, mọi môn học, không nên hời hợt, cho qua khi các em đọc sai lỗi, với học sinh lớp 1 cần tập cho các em thói quen tốt: đọc đúng, nhìn kỹ, cố gắng, nhẫn nại, chịu khó vv… để tập cho các em nề nếp tốt trong học tập ở hôm nay và mai sau.

Trên đây là một số biện pháp của bản thân. Rất mong các đồng nghiệp quan tâm giúp đỡ tạo điều kiện để cho cô và trò lớp 1 dạy và học tốt hơn./.

 

 

 

 

 

 

 

Giáo án  minh họa chuyên đề

Bài : Âm /ng /

 

* Mở đầu :

– Cho HS vẽ mô hình

n   a

Đọc trơn, phân tích

– Nhắc lại thứ tự các chữ cai đã học: a,b,c,ch,d,đ,e,ê,g,h,i,l,m,n.

* Việc 1: Chiếm lĩnh ngữ âm

  1. Thay âm /n/ bằng / ng/ ta được tiếng gì ?
  2. Được tiếng / nga/
  3. Gv phát âm / nga/
  4. đồng thanh, cá nhân : T-N-N-T
  5. Em nào phân tích tiếng / nga/

H . Phân  tích /nga/ – /ngờ/ – /a/ – /nga/

  1. Tiếng/ nga/ có âm nào đã học , âm nào chưa học ?
  2. Âm /a / đã hoc, âm /ng / chưa học
  3. Các em phát âm phần đầu
  4. Phát âm /ng/ ( cá nhân tiếp nối nhiều lần nhiều )
  5. Âm /ng/ là nguyên âm hay phụ âm ? Vì sao ?
  6. Phụ âm . Vì khi phát âm luồng hơi đi ra bị cản.
  7. /ng/ là phụ âm
  8. nhắc lại nhiều lần ( cá nhân tiếp nối ) H . đồng thanh / ng/ là phụ âm .

H.vẽ mô hình

    a

* Việc 2 :Viết

  1. Giới thiệu chữ / ng/ in thường. T viết bảng.
  2. Giới thiệu chữ / ng/ viết thường.
  3. Viết bảng con chữ n ( 2- 3 lần )
  4. Đưa âm / ng/ vào mô hình trên
  5. Vẽ
ng   a
  1. Em chỉ vào mô hình và đọc : Đọc trơn, đọc phân tích.
  2. Đọc trơn, đọc phân tích  /nga/- /ngờ/- /a/- /nga/

Giới thiệu luật chính tả ghi âm /ngh /

  1. GV phát âm / nghe/
  2. đồng thanh, cá nhân : T-N-N-T
  3. Em nào phân tích tiếng / nga/

H . Phân  tích /nghe/ – /ngờ/ – /a/ – /nghe/

  1. Luật chính tả âm /ngờ/ hướng ẫn viết chữ ngh : chữ ngh gồm 3 nét: n/g/h
  2. Đưa tiếng / nghe/ vào mô hình trên
  3. Vẽ
ngh   e
  1. Em chỉ vào mô hình và đọc : Đọc trơn, đọc phân tích.
  2. Đọc trơn, đọc phân tích /nghe/- /ngờ/- /e/- /nghe/

Thêm thanh tạo thành tiếng mới

  1. Hướng dẫn H viết vở Em tập viết
  2. viết bảng con : ng, ngh, ngã ba

– Tô 3 dòng chữ ng, ngh viết thường, cỡ vừa.

– Viết 1 dòng chữ ng viết thường cỡ vừa.

– Viết 1 dòng chữ ngh viết thường cỡ vừa.

– Viết 1 dòng ngã ba

Giáo viên nhận xét.

 

 

Ái Nghĩa, ngày 02 /10 /2018

Người viết

 

 

Đỗ Thị Ngọc Hương